Thầy sẽ nói sơ qua về lịch sử của pháp môn Phowa mà chúng ta đang thực hành. Tên của pháp tu Phowa đặc biệt này là “Ngọn cỏ thẳng”. Nếu như thực hành Phowa đúng cách, đỉnh đầu của ta sẽ trở nên rất mềm. Khiếu này trở nên lỏng hơn và các con có thể cắm thẳng một ngọn cỏ vào đó. Điều này đã từng xảy ra với các hành giả. Vì uy lực tốc chứng của pháp tu này nên nó được gọi là “Ngọn cỏ thẳng”.
Thuở trước, Pháp vương Tây Tạng tên Xích Tùng Đức Tán đã mời Liên Hoa Sinh đại sư từ Thiên Trúc sang Thổ Phồn. Ở đây, Liên Hoa Sinh đại sư đã ngụ ở một nơi có tên Chimpu, trong một hang động gần tu viện Tang Duyên. Vua Xích Tùng Đức Tán có một vị đại thần rất thân cận tên là Nyima. Quan Nyima là người giàu có và đầy quyền lực. Ngài có hai biệt thự dành cho hai mùa khác nhau. Ở mỗi nơi ngài đều có rất nhiều tiền của và ngài thường mang các đồ vật từ nơi này sang nơi khác.
Một hôm, khi ngài mang một số hàng hoá từ ngôi này này sang ngôi nhà khác, ngài đã gặp phải một tai hoạ. Trong đêm, ngài phải châm đèn trong một căn nhà và lửa đã bén. Lửa lan rất nhanh và rồi không ai dập nổi. Trận hoả hoạn đã lấy đi sinh mạng của mười ba người trong gia đình ngài bao gồm cả cha mẹ ngài và nhiều gia súc.
Vị đại thần đã trở nên vô cùng suy sụp sau trận hoả hoạn. Ngài lúc nào cũng ưu sầu về việc ngài đã phạm phải một ác nghiệp rất nặng, đó là giết cha mẹ. Ngài không thể thoát khỏi tình trạng này. Ngài hoảng hốt khi nghĩ về quả báo do ngài đã phạm ác hạnh. Vậy nên vua Xích Tùng Đức Tán đã thỉnh cầu Liên Hoa Sinh đại sư giúp đỡ vị quan đại thần.
Bằng thần thông của mình, Liên Hoa Sinh đại sư đã tới cõi Tây phương Cực Lạc và thụ lãnh pháp tu Phowa trực tiếp từ Đức Phật A Di Đà. Theo lời dạy của Đức Phật A Di Đà, Liên Hoa Sinh đại sư đã truyền lại giáo pháp này cho vị quan đại thần. Sau đó, giáo huấn được phong ấn. Đại quan Nyima đã nhận pháp môn này ở tu viện Tang Duyên và ngài đã thực hành. Cuối đời, ngài đã được vãng sinh Cực Lạc. Có những dấu hiệu thù thắng cho thấy ngài đã thành tựu pháp, như cầu vồng xuất hiện trên trời và ngài để lại xá lợi.
Sau khi đã dạy cho vị quan, Liên Hoa Sinh đại sư đã viết lại giáo pháp này trên lá cọ, dùng máu của ngón tay đeo nhẫn ngài làm mực, tóc của bà Yeshe Tsogyal làm bút. Bản văn đã được phong ấn bảy lần và được gói trong lụa không thấm nước. Ngài lại đặt nó vào trong hồ Mạn Đà La ở trên đồi vùng Gampo. Ở đó, Liên Hoa Sinh đã chỉ định Long vương Tsunam Rinchen làm hộ pháp cho giáo pháp này. Liên Hoa Sinh đã tiên đoán với Long vương rằng trong tương, hoá thân của Nyima sẽ tái sinh với tên Nide Sangye và sẽ nhận lại bản văn này.
Một vài thế kỉ sau đó, khoảng 350 năm sau, đại thần Nyima đã tái sinh với tên Nide Sangye, con trai của một người chăn cừu. Nide Sangye cũng trở thành người chăn cừu và ngài là người đầy lòng từ bi. Ngài từ bi đến độ ngài thường xuyên khóc khi thấy cừu chết hoặc cừu có vấn đề. Ngài khóc vì ngài có lòng từ bi. Một lần, Đức Phật A Di Đà đã đích thân hiện ra trước mặt ngài và trao trực tiếp cho ngài giáo huấn Phowa. Sau đó Nide Sangye đã dùng những phương tiện này để chuyển di thức của các con vật khi chúng chết. Ngài cũng nhận bản văn được cất dưới hồ do Long vương giữ gìn.
Nide Sangye đã truyền lại giáo huấn này thành một dòng truyền xuống đến các vị đại sư: Namkya Gyaltsen, Sangbhadra, Padmo Chime Lodrol, Choki Sangye Gyaltsen, Lobpong Gyaltsen, Londrak Phuntsog Namgyal – trụ trì tu viện Drikung Nyamrigon, sau đó xuống đến Thắng giả Konchok Ratna – Drikung Kyabgon Chetsang đời I. Sau đó từ Konchok Ratna xuống đến Đại sư của dòng Drikung Dharmakirti – Chungsang Rinpoche đời I. Như vậy, giáo pháp Phowa đã được truyền vào dòng Drikung và nhiều người đã thực hành và đạt thành tựu.
Đức Phật A Di Đà là đạo sư
Giờ chúng ta mở trang 20 (Giáo huấn về chuyển di thần thức), dòng đầu tiên của bản dịch tiếng Anh có câu: “Đức Phật A Di Đà chính là bản tính của Đạo sư con.” Dù các con tu Pháp môn gì, quán tưởng Bản tôn gì, đây cũng là điều hết sức quan trọng. Phải quán tưởng Bản tôn chính là tinh tuỷ của bậc Thượng sư và từ mặt này, Bản sư hiện ra là Bản tôn. Ngay cả khi con chưa nhìn ra bản chất của tâm cũng hãy giữ niệm như vậy – rằng đó là tinh tuỷ của bản sư.
Bản sư là người chỉ ra các kiến giải cho con. Bản sư nắm giữ hai dòng tương tục của Bồ đề tâm khởi nguồn từ Đức Phật, và ngài chỉ dạy nó cho con. Vậy nên phải coi Bản sư chính là Đức Phật. Tín tâm của con và bi tâm của Bản sư có liên hệ với nhau.
Có những tiêu chuẩn về khái niệm chung “Bản sư là gì”. Một vị Bản sư là người ban quán đỉnh cho con, người dạy con Mật điển, v.v.. Nhưng một vị Bản sư cũng là người con có nhiều liên hệ, nhiều tình thân ái đến từ sâu thẳm trong tim con, sâu thẳm đến mức không ai có thể đảo lộn nó. Nếu có có một người thầy như vậy, con có thể quán tưởng thầy con giờ đây hiện ra trong hình tướng Đức A Di Đà. Nếu con không có mọt người thầy nào như vậy, con có thể quán tưởng Phật A Di Đà là hiện thân của tất cả chư vị đạo sư mà con biết, tất cả chư vị đạo sư mà con đã từng theo học.
Đẩy thức lên với âm “HIK”
Với âm “HIK”, các con từ từ đẩy thức trong quả cầu ánh sáng lên tới khiếu trên đỉnh đầu. Khi con làm điều đó cho chính mình, con phải hô “HIK”. Khi con làm xong bảy lần, con phải nói “GAR” để đưa thức về tim. Trong một vài pháp tu, người ta quán tưởng thức ở dưới rốn và như thế thì âm “GAR” sẽ đưa thức về vị trí này. Nhưng trong khoá tu này, các con không phải tự hô “HIK”. Thực ra thì “GAR” khi hô lên là để đưa hơi thở vào trong. Vì khi ta hô “HIK”, hơi thở đi ra ngoài. Vậy nên hô “GAR” sẽ đưa hơi thở vào trong, trở lại tim. Đại loại như vậy.
Với âm “HIK”, các con đưa thức lên trên, đừng đưa hơi thở ra ngoài. Khi các con hô xong bảy lần “HIK”, hãy quán tưởng và hô “GAR”, các con sẽ đưa được thức trở về đoá sen. Không nhất thiết phải hô “HIK”. Có hành giả hô thế nhưng điều này không quá quan trọng.
Thời khoá tiếp tục với phần thực hành Phowa.

Tuyệt vời bạn ạ!
Trả lờiXóa