3 thg 2, 2015

Nhập môn Phowa

Ngày I – Thời khoá 1 - Nhập môn Phowa.
   Chúng ta sắp thực hành pháp Phowa. Toàn bộ giáo pháp đều bao gồm trong giáo huấn Phowa. Đó là phương pháp giải thoát khỏi nỗi khổ trong luân hồi. Có nhiều pháp Phowa khác nhau. Đầu tiên là Phowa trên quan kiến từ sự giác ngộ Đại Ấn và Đại Viên Mãn. Loại trung bình là pháp Phowa Báo thân bao gồm các cấp sinh khởi và toàn thiện của thiền định. Và loại thấp nhất là Phowa báo thân, tức là sử dụng thân và các đường mạch để điều khiển giọt thần thức.

   Trong thực hành Phowa, có hai yếu tố chính – thân (kinh mạch) và tâm. Kinh mạch có hai loại – tịnh và uế. Tâm cũng có hai trạng thái – tịnh và uế. Tâm uế do các cảm xúc phiền não, và tâm tịnh từ Bồ đề tâm mà ra. Để có thể biến đường mạch xú uế trở nên thanh tịnh, để chuẩn bị điều này, chúng ta sẽ thực hành Kim Cương Tát Đoả (trang 6 – giáo huấn về chuyển di tâm thức).
   Khi thầy nói “uế”, không có nghĩa rằng có một loại uế tạp nào vốn sẵn có trong ta. Trạng thái uế nghĩa là chưa thành thục, trạng thái tịnh là trạng thái đã thành thục. Ví dụ, một quả táo chín nó chỉ tạm thời trong điều kiện đó, nhưng nếu đặt quả táo đó dưới ánh nắng, nó sẽ chín. Cũng như vậy, dù chúng ta có những tạp nhiễm, chúng cũng chỉ là tạm thời. Từ ban đầu chúng ta luôn thanh tịnh.
   Kim Cương Tát Đoả chính là Kim Cương Trì hay Phổ Hiền. Các ngài hoá hiện ra hình tướng thanh tịnh căn bản của tâm chúng ta. Các con có thể nghĩ rằng các Bản tôn này và các con vốn không khác nhau. Các con như một cái cây và một Bản tôn như Kim Cương Tát Đoả giống như bông hoa trên cây đó. Về bản thể, sự thanh tịnh của tâm là một chuỗi liên tục không gián đoạn từ chúng ta tới các vị Bản tôn. Thực hành Kim Cương Tát Đoả là phương pháp để nhanh chóng làm cho dòng tâm thức chúng ta trở nên thuần thục thông qua năng lực từ Bi và Trí bất nhị mang lại.
Khi thực hành Kim Cương Tát Đoả, các con nên quán tưởng rằng có một thân tướng Kim Cương Tát Đoả khổng lồ trong không gian trước mặt các con. Thân tướng này hiển lộ từ Pháp thân rộng lớn như hư không của ngài. Trên đỉnh đầu, con nên quán tưởng Đức Kim Cương Tát Đoả đang ngồi trong một vòng hào quang màu cầu vồng như trong thangka về Đức Độ Mẫu. Những tia sáng này chiếu tới chúng sinh hàm thức trong sáu đạo luân hồi, và mỗi chúng sinh đó trên đầu đều có một thân tướng Đức Kim Cương Tát Đoả như con vậy.
   Ví dụ, chúng ta có một bức tượng Phật ở đây. Nếu chúng ta đặt hàng trăm mảnh pha lê trước nó, từ một bức tượng duy nhất sẽ phản chiếu trong tấm pha lê thành hàng trăm hình bức tượng Phật. Cũng như vậy, khi các tia sáng toả ra từ đỉnh đầu con, từ thân Đức Kim Cương Tát Đoả, Đức Kim Cương Tát Đoả tương tự sẽ phản chiếu trên đầu của tất cả chúng hữu tình trong sáu cõi luân hồi.
   Khi thực hành, con có thể tưởng tượng rằng thân con như một cái cây, các cành cây toả ra xung quanh như một cái dù, như hình dáng một cái ô. Giữa đỉnh đầu con là cửa mở của đường mạch giữa. Có một đoá sen trắng, cuống của nó ở bên trong cửa mở này. Tương tự như những cành cây, đường mạch giữa có nhiều mạch nhánh và điểm cuối cùng của các đường mạch nhánh này được nối với các lỗ chân lông trên người. Khi con thực hành, con nên quán tưởng rằng tất cả những đường mạch này trở nên trong sáng và chúng được giải thoát khỏi những chướng ngại bên trong. Chúng luôn sẵn sàng chảy cho bất cứ thứ gì cần chảy qua chúng.
   Nói chung, có bốn loại năng lượng được đề cập đến để tiêu trừ ác nghiệp và chướng ngại, nhưng bốn loại có thể đơn giản hoá thành ba. Đầu tiên là sức từ bi của tất cả chư Phật. Thứ hai là sức của sùng tín. Thứ ba là sức của Phật tính – hay còn gọi là Pháp giới.
   Khi con trì tụng, hãy quán tưởng rằng Đức Kim Cương Tát Đoả ở trên đỉnh đầu con nhận được năng lực, dưới dạng nước cam lộ, của chư Phật khắp mười phương, và thân ngài tràn đầy cam lộ. Qua ngón chân cái của Đức Kim Cương Tát Đoả, cam lộ chảy xuống thân con qua cửa mở trên đỉnh đầu. Đầu tiên nó chảy đầy đường mạch giữa, và sau đó dần dần thấm ra toàn thân thông qua các đường mạch nhánh, đến các lỗ chân lông trên thân. Như thế, hình tướng phàm phu của con, thân thể phàm phu hỗn tạp của con trở nên thanh tịnh và trở thành thân cầu vồng.
   Về mặt bề nổi thì có sự khác biệt giữa tịnh và uế. Nhưng về mặt bản chất thì thân luôn thanh tịnh. Bởi chấp ngã, năm độc gia tăng. Có thể tổng hợp chúng thành ba độc hay ba phiền não – tham chấp, sân hận và ngu si. Ví dụ, xương trong người được cấu thành từ sân hận, máu từ tham chấp, và thịt từ ngu si. Vì thế nên trong vài pháp môn, chúng ta cúng dường thịt và máu đến các Bản tôn phẫn nộ. Chúng ta cúng như vậy để giải thoát khỏi ba tâm. Khi giải thoát khỏi ba độc này, thân trở nên thanh tịnh nguyên thuỷ trong dạng tướng thân cầu vồng.
Chúng ta có khái niệm về “ngã”, và chúng ta gắn tâm vào cái ngã này, nhưng “ngã” vốn không tồn tại. Vào cuối cuộc đời, tâm và thức chúng ta sẽ tách xa nhau. Vì vậy, “Ba mươi bảy hạnh Phật tử” giảng rằng thân ta như nhà trọ và thức như khách. Vào cuối ngày, khách sẽ rời nhà trọ. Chỉ vì cho rằng thân này chính là “tôi”, nên chúng ta đã tạo nghiệp bởi tham chấp. Và vì vậy nên chúng ta lang thang trong cõi luân hồi. Nếu các con nhận ra thân này chính là một bản ngã không thực sự tồn tại, hoặc con nhận ra bản thể của tự ngã, con có thể giải thoát được khỏi chấp ngã.
   Bài nguyện mở đầu của dòng Drikung và Tứ vô lượng tâm
   Trong bài nguyện mở đầu mà chúng ta vừa tụng (Giáo huấn về chuyển di tâm thức, trang 2), đối tượng chính của lòng từ chính là kẻ thù của chúng ta. Chúng ta cảm thấy căm hận kẻ thù của mình, nhưng cần phải hiểu rằng những kẻ thù này đã từng là cha mẹ, thân quyến và bằng hữu trong những kiếp quá khứ. Họ đã từng là người mà chúng ta đã dành tặng cả tình yêu thương, trìu mến. Chúng ta nên hiểu rằng chính bởi những lỗi lầm trên con đường đi cùng nhau, bằng cách nào đó chúng ta đã cảm thấy căm hận họ và họ trở thành kẻ thù của chúng ta. Vậy nên hãy hiểu rằng chính các con phải có trách nhiệm về điều này. Nếu con có thể khởi lòng từ bi với kẻ thù, thì khởi lòng từ bi với tất cả chúng sinh hàm thức sẽ trở nên dễ dàng hơn. Đó là phương pháp đặc biệt mà Đức Jigten Sumgon đã dạy. Đó là phương pháp duy nhất.
   Trong bài nguyện Tứ vô lượng tâm chúng ta vừa tụng (Giáo huấn về chuyển di tâm thức, trang 5), ở đó có đoạn: “Nguyện họ được lạc.” Đầu tiên, chúng ta phải biết được lạc là gì. Lạc chủ yếu chỉ là từ bi. Câu sau đó “Thoát khỏi khổ” – khổ là nỗi đau khổ không thôi của khái niệm “ngã”. Chúng ta luôn suy nghĩ và cảm nhận về “Ngã, ngã, ngã”. Việc làm không dứt này chính là khổ. Ngã kiến hay chấp ngã càng giảm thiểu được bao nhiêu thì ý thức về lòng từ bi của chúng ta càng tăng trưởng được bấy nhiêu. Không thể thiếu động lực này trong mọi thực hành. Tinh tiến trong việc thực hành Pháp phụ thuộc vào động cơ thực hành.
(Sau đó là phần thực hành Kim Cương Tát Đoả)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét