3 thg 2, 2015

Thực hành Phowa

Ngày I – Thời khoá 3 - Thực hành Phowa
   Trong Pháp tu Phowa, có ba niệm các con cần phải có. Thứ nhất, cõi Cực Lạc nên được nhìn nhận như quê cha của riêng các con nơi cha các con, Đức Phật A Di Đà, đang ngự. Thứ hai, chúng ta nên coi đường mạch giữa như là đường về cố hương. Thứ ba, thức của các con là vị khách, hoặc một nhà du hành, đang đi trên con đường đó để trở về nhà.

   Cõi Cực Lạc và Đức Phật A Di Đà có nhiều phúc báo thù thắng. Đức Phật A Di Đà có mọi phúc báo nhờ nhất thiết trí và tâm đại từ bi của ngài. Nói chung, cõi Cực Lạc là nơi có nhiều hỉ lạc. Những hỉ lạc này đến từ tự phát, không cần tạo tác. Trong cõi nhân thiên cũng có hỉ lạc, nhưng hỉ lạc đó còn cần tạo tác và vì thế, chúng trở nên uế tạp.
   Trong các giáo huấn có chỉ dạy nhiều phương pháp khác nhau để giúp chúng ta nhận biết được cõi Phật. Cõi Phật chỉ là do tâm Bồ đề hoá hiện. Nhưng nếu các con tự hỏi: Liệu rằng chỉ có cõi Cực Lạc là công đức của Bồ đề tâm chăng? Câu trả lời là không. Thực tế, thậm chí cả cõi trời và người, tất cả mọi hỉ lạc mà chúng ta hưởng thụ đều nhờ Bồ đề tâm.
   Trong tâm chúng ta, chúng ta có chấp ngã và cũng có cả một chút từ bi nữa. Vậy nên, chúng ta cảm thấy cõi thế gian này là sự tổng hoà của khổ và lạc. Cuộc đời chúng ta có thể ví như một món ăn ngon nhưng bị tẩm độc. Món đó ăn rất ngon, nhưng không phải đã sạch sẽ. Trong cõi nhân, có nhiều điều đến từ Bồ đề tâm. Nếu chúng ta nói rằng cõi Cực Lạc là công đức và là hoá hiện của Bồ đề tâm, vài kẻ ngu si có thể cho rằng công đức này chỉ có nơi Cực Lạc, và cõi người thì chẳng bao giờ tìm thấy. Điều này không đúng, nó có thể khiến tâm chúng ta mắc phải một số nhầm lẫn hay nghi hoặc.
   Ví dụ, chúng ta có mặt trời, mặt trăng, mây, đất, núi, hoa, v.v.. Tất cả chúng đều tự nhiên mà thành. Chúng không được sản xuất theo một quy trình kĩ thuật nào cả. Chúng ta có thể có được những nguồn tài nguyên tự nhiên đó là nhờ vào Bồ đề tâm từng phần, một loại Bồ đề tâm chưa chín chắn. Thậm chí một loại Bồ đề tâm sơ khởi, chưa chín cũng có nhiều công đức và nhiều lợi ích. Ví dụ, phần lớn chúng ta ở đây, trên một mức độ nào đó, cũng đều có Bồ đề tâm. Các con có thể chưa phát khởi được Vô thượng Bồ đề tâm. Nhưng thậm chí chỉ nhờ vậy, chúng ta cũng sẽ có được nhiều niềm vui trong cuộc sống. Nếu như chỉ một loại Bồ đề tâm nửa vời như thế cũng đã có nhiều quả thiện, thì chúng ta không nên nghi ngờ rằng có những công đức thù thắng ở cõi Tây phương. Bởi Đức A Di Đà đã phát khởi Bồ đề tâm trước Hằng hà sa số Đức Phật, và ngài đã tích tập vô lượng công đức trong nhiều đại kiếp để có thể kiến lập nên cõi Tây phương Tịnh độ. Vậy nên quan trọng chúng ta không được phép nghi ngờ.
Sau khi đã quán chiếu về các công đức thù diệu của cõi Tây Phương Cực Lạc, chúng ta nên khởi lòng đại bi cho tất cả chúng sinh trong ba cõi luân hồi. Có những chúng sinh theo chủ nghĩa hư vô, hoặc tà kiến, và cũng có những chúng sinh quan niệm rằng không có luật nhân quả. Nếu như họ không phải chết thì quan điểm này là đúng đắn, nhưng thực ra chẳng có ai không phải chết. Và khi cái chết đến gần, họ không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải đối diện với quả của những phiền não trong tâm và những ác nghiệp mà họ đã tạo.
   Ví dụ, khi chúng ta ngồi trên một chiếc máy bay đang cất cánh, nữ tiếp viên chỉ cho chúng ta cửa thoát hiểm khi có tai nạn. Tương tự thế, khi chúng ta chết, thức của chúng ta sẽ thoát ra khỏi thân xác và cần phải có một lối đi nào đó cho thức. Hẳn phải có một ý tưởng rõ nét về nơi ta sẽ đi. Vậy nên chuẩn bị cho thức rời đi là việc vô cùng quan trọng. Nên có một ý nghĩ dứt khoát về nơi thức sẽ đi khi nó rời khỏi thân xác. Nhưng trên thế giới này, nhiều chúng sinh không nghĩ về điều này bao giờ. Họ thực sự là những người mà chúng ta nên dành nhiều bi tâm. Chúng ta nên chân thành và từ bi với họ. Chúng ta phải dùng những phương tiện này – lòng đại bi vô lượng – với những chúng sinh như vậy. Chúng ta có thể tìm ra con đường và dạy lại người khác con đường này – phương tiện để đạt tới giải thoát luân hồi và tái sinh Cực Lạc. Vì vậy, quán niệm về nỗi khổ trong luân hồi là điều vô cùng quan trọng.
   Chúng ta bắt đầu từ trang 16 (Giáo huấn về chuyển di thần thức – Phần thực hành chính). Các con nên nghĩ rằng thân là một đống nguyên tử. Bề ngoài của nó giống như một ảo tưởng. Nó không tồn tại theo kiểu như nó đang có vẻ tồn tại. Khi ý thức về một cái thân thực sự tồn tại biến mất, chúng ta phải quán tưởng chúng ta trong hình tướng Đức Kim Cương Du Già Mẫu. Ngài hiện ra nhờ Bồ đề tâm.
Ở cuối trang 18, có một đoạn giảng về đường mạch giữa. Đường mạch giữa chạy xuyên suốt ở giữa thân chúng ta. Đầu trên ở huyệt Phạm thiên, còn đầu dưới ở bộ phận kín. Ở dưới rốn của chúng ta có ba khiếu thoát. Nếu thức của chúng ta thoát ra từ các khiếu này tức là chúng ta sẽ tái sinh trong ba ác đạo. Nếu thức thoát ra phía trên rốn, chúng ta sẽ sinh trong các cõi thiện như cõi Sắc, Vô sắc hay cõi người. Khiếu ở trên đỉnh đầu, giữa đỉnh đầu, là khiếu thoát đưa ta đến giác ngộ. Vậy nên trong pháp Phowa, chúng ta phải khoá tất cả các khiếu thoát khác và chỉ để cho huyệt Phạm thiên mở.
Đường mạch giữa màu xanh phía bên ngoài và đỏ mặt trong, như trong bài đã giải thích. Nhưng chúng ta nên quán tưởng đường mạch giữa này vô cùng mảnh và nhỏ như được làm từ cầu vồng. Nó to khoảng bằng ngón tay vô danh, trong và rất mảnh.
   Nếu người có kinh nghiệm về thiền định tâm, khí dung hoà không hai, thì kinh nghiệm đó có thể được áp dụng trong pháp tu này. Đầu dưới của đường mạch giữa nằm dưới rốn. Có người có kinh nghiệm thiền định về khí ở rốn, họ có thể dung hợp tâm và khí. Như vậy, tâm sẽ trụ ở dưới rốn cùng với khí, và trong pháp tu này, tâm phải trụ trên một đoá hoa ở vị trí ngang tim trong đường mạch giữa.
   Cũng như đã giải thích trong bản dịch, có một từ “đốt” ở trang 19: “Ở ngang tim có một đốt”. Thực ra đường mạch giữa chẳng có cái đốt nào cả, bên trong nó trong suốt. Không có một đĩa nào ở trong. Nó rất rõ nét. Nhưng ở vị trí ngang tim, có một đoá sen đỏ bốn cánh nơi trụ của của thức. Trên đoá sen này, các con phải quán tưởng một quả cầu sáng. Thực tế thì nó tựa như một chiếc đèn rõ và rỗng. Nó rõ ràng nhưng không thực. Quả cầu sáng này là nguyên nhân thức hình thành và nó rất tinh tế. Nó chỉ cần chút gió là đã di chuyển được. Quả cầu này rất nhạy cảm đến mức chỉ cần đẩy nhẹ là nó có thể chuyển lên trên. Quả cầu này rõ ràng, rỗng và không thực. Đức Phật A Di Đà ở trên đầu chúng ta cũng rất rõ ràng mà không thực. Cả Đức Phật và quả cầu đều có đặc điểm chung này, và đặc điểm này có liên hệ đến Phật tính.
   Trong pháp tu Phowa, thức được đặt trên một quả cầu sáng cùng Đức Phật A Di Đà hoà vào nhau rồi trở nên bất nhị như lửa với lửa khi chúng ta đặt chúng cạnh nhau. Trong khi thực hành Phowa, các con phải quán tưởng rằng đầu trên của mạch giữa phía đỉnh đầu bị bịt bởi ngón chân cái phải khổng lồ của Đức A Di Đà.
   Khi mới bắt đầu tu, chúng ta hô âm “HIK” bảy lần để đẩy thức từ phía tim bên trong đường mạch giữa lên đỉnh đầu. Mỗi lần hô “HIK”, quả cầu sáng có mang thức của chúng ta nảy lên và nảy lên, cho tới âm “HIK” thứ bảy thì nó chạm vào ngón chân Đức Phật A Di Đà. Sau đó khi con hô “GAR”, quả cầu quay trở về đoá sen bốn cánh.
   Ban đầu, khi mới tu, các con phải hô bảy lần để đưa thức lên chạm đến ngón chân Phật. Nhưng khi đã tiến bộ hơn, các con có thể bớt đi số lần hô “HIK” xuống còn ba, cuối cùng còn một. Sau đó, dù không hô “HIK” nữa, các côn vẫn có thể đưa quả cầu đó lên lên xuống xuống theo ý con. Cái này giống như tạo ra một con đường. Pháp tu mà chúng ta quán tưởng giống như tạo ra một con đường tới cõi Phật của Đức A Di Đà. Nhưng khi thực hành, chúng ta chỉ cần quán tưởng đơn giản như đã nói trong đoạn văn. Thầy sẽ hô “HIK” cho tất cả đại chúng, các con không phải hô nữa. Các con chỉ cần quán tưởng quả cầu sáng đó phóng lên trên và lên trên mỗi khi thầy hô “HIK”.
   Tiếp tục thời khoá là thực hành pháp Phowa.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét