2 thg 2, 2015

Thực hành 7 nhánh trong Kim Cương Thừa!

Hành trình tam bộ nhất bái của người Tây Tạng đến thủ đô Lhasa
   Để nhận được sự gia trì của Guru Rinpoche, chúng ta cũng cần hoàn thành tích lũy công đức và trí tuệ. Cách dễ dàng nhất, và cũng là phương pháp quan trọng nhất cho điều này là thực hành bảy nhánh. Được tán dương bởi tất cả các vị Thánh trong quá khứ, bảy nhánh này cô đọng tất cả các cách khác nhau để tích lũy công đức.


(1) Lễ lạy
   Đầu tiên trong bảy nhánh là kính lễ với việc lễ lạy. Khi chúng ta hoàn thành các thực hành dự bị ngondro, chúng ta tiến hành 100 000 lễ lạy khi đang tụng đọc bài quy y hoặc khi trì tụng thực hành bảy nhánh trong phần Đạo sư Du già. Giống như ai đó trở nên khiêm nhường khi đối diện với người mà đòi hỏi sự kính trọng lớn lao, phẩm tính khiêm nhường của chúng ta sẽ tăng trưởng khi chúng ta thực hành như vậy trước Guru Rinpoche và chư Phật.
    Quán tưởng bản thân trong hình tướng bình thường, chúng ta gạt đi mọi ích kỷ và tự hào, và biểu lộ sự kính trọng bằng cách cúng dường lễ lạy. Có ba cách để lễ lạy. Cao nhất là với tri kiến, khi nhận ra bản tính tuyệt đối – tinh túy của Phật quả. Kế đó là qua thiền định, khi chúng ta quán tưởng bản thân trong vô số hình tướng, tất cả cùng lễ lạy về nguồn gốc quy y, và cùng trì tụng lời nguyện trong thực hành bảy nhánh, như thể chúng ta đang dẫn dắt những lời nguyện của mọi hữu tình chúng sinh. Kiểu thứ ba là khi chúng ta phát khởi niềm tin và lòng sùng mộ khi lễ lạy trên mặt đất hướng về đối tượng quy y.
    Để thực hành lễ lạy một cách thích hợp, bạn chạm vào mặt đất bằng năm điểm – trán, hai tay, và hai đầu gối. Một phương pháp khác, được sử dụng bởi các vị Kadampa, là thả người về phía trước, để hai tay chạm đất trước hai đầu gối. Đây được gọi là lễ lạy toàn thân hay lạy soài, và là cách bí mật nhất để tịnh hóa các giới nguyện bị hỏng.

3 phụ nữ trên Quốc lộ Thanh Hải -Tây Tạng. Các cô đã lạy 600km và còn lạy150 km nữa thì tới Thánh Địa Lhasa
    Trước khi bắt đầu lễ lạy, đầu tiên chúng ta chắp hai bàn tay lại ở trái tim. Tay không nên để thẳng, mà phải có một khoảng không ở giữa, để chúng giống như búp sen sắp nở. Điều này biểu tượng cho sự nở hoa của bồ đề tâm. Sau đó chúng ta đưa hai tay lên trên trán, thấy rằng chúng ta đang lễ lạy đến khía cạnh thân của chư Phật, và cầu nguyện rằng:
- Nguyện cho tất cả che chướng về thân của con được tiêu trừ và
- Nguyện cho con nhận được sự gia trì của việc chứng ngộ thân của chư Phật!
    Sau đó chúng ta để tay ở cổ họng, thấy rằng chúng ta đang lễ lạy khía cạnh khẩu của chư Phật, và cầu nguyện rằng:
- Nguyện cho tất cả che chướng về khẩu của con được tịnh hóa và
- Nguyện cho con nhận được sự gia trì của việc chứng ngộ khẩu của chư Phật!
    Cuối cùng, chúng ta để tay ở tim và kính lễ trái tim, hay tâm, khía cạnh của của chư Phật, cầu nguyện rằng:
- Nguyện cho tất cả che chướng về tâm được sáng tỏ và
- Nguyện cho con nhận được sự gia trì của việc chứng ngộ tâm của chư Phật!
Sau đó chúng ta lễ lạy và thấy rằng khi năm điểm chạm đất, năm độc được tịnh hóa thành năm trí tuệ.
    Lợi lạc của việc lễ lạy là không thể nghĩ bàn. Như trong Kinh điển có nói:
Số lượng hạt bụi bên dưới thân bạn khi thực hành chỉ một lễ lạy lên Đức Phật sẽ là số lần bạn tái sinh làm vua vũ trụ trong các đời tương lai.
(2) Cúng dường
   Cúng dường bao gồm cả cúng dường vật chất và cúng dường quán tưởng bằng tâm. Với cúng dường vật chất, chúng ta dâng lên càng nhiều càng tốt, đặc biệt là bảy món cúng dường truyền thống: nước, hoa, hương, đèn, nước thơm, thực phẩm và âm nhạc. Với vật phẩm quán tưởng bằng tâm, chúng ta tưởng tượng núi non, rừng cây, thực vật, khu vườn, đại dương và mọi sức trang hoàng và vật phẩm quý giá của vũ trụ và cư dân trong đó. Chúng ta cũng quán tưởng rằng toàn thể vũ trụ tràn ngập với tám biểu tượng cát tường và tám vật liệu cát tường, cùng với ngọc báu, cung điện và các khu vườn thần thánh đẹp đẽ.
   Tất cả những thứ này được dâng lên mà không mong chờ đền đáp, như một phương thức đối trị cho tham lam và ích kỷ. Sau đó chúng ta thấy rằng với lòng từ bi và trí tuệ, chư Phật hoan hỉ chấp nhận sự cúng dường, để chúng ta có thể tích lũy công đức.
(3) Sám hối
   Chúng ta sử dụng sám hối để tịnh hóa những ác hạnh, những lỗi lầm và suy đồi, vì nếu những lỗi lầm đó không được tịnh hóa, chúng sẽ tạo ra chướng cản cho chứng ngộ. Để tịnh hóa các ác hạnh, che chướng và lỗi lầm, chúng ta cần nương tựa vào bốn sức mạnh, tên là: sức mạnh của sự nương tựa, sức mạnh của sự ân hận, sức mạnh của sự đối trị và sức mạnh của lời hứa.
   Thứ nhất là sức mạnh của sự hỗ trợ. Giống như khi tên tội phạm bị xét xử, quan tòa được bao quanh bởi tất cả những gì đại diện cho sự công bằng, bởi vậy khi chúng ta quán tưởng Guru Rinpoche trên đỉnh đầu, ngài được bao quanh bởi đoàn tùy tùng gồm chư Phật, Bồ Tát và các bậc Trì Minh Vương. Đây là đối tượng mà chúng ta bày tỏ sự ăn năn và sám hối.
   Thứ hai là sức mạnh của sự ân hận. Nếu chúng ta không phạm phải ác hạnh nào trong quá khứ, sẽ chẳng có gì để sám hối và không thứ gì để sửa chữa. Bởi vậy chúng ta công nhận rằng trong vô số đời trước kia, chúng ta đã không ngừng lặp lại việc phá hỏng ba giới ra sao: Biệt giới giải thoát, Bồ Tát giới, và các hứa nguyện của Mật thừa. Nếu chúng không được tịnh hóa, chúng sẽ trở thành chất độc trong ta, và sẽ khiến chúng ta tiếp tục trôi lăn trong luân hồi.
   Thứ ba là sức mạnh của sự đối trị, thực hành tịnh hóa thực sự. Với lòng sùng mộ chân thành, chúng ta cầu nguyện đến Guru Rinpoche và tưởng tượng rằng vô số ánh sáng phát ra từ trái tim ngài và tan hòa vào chúng ta. Ánh sáng này thanh tẩy chúng ta hoàn toàn và nó rửa sạch và tan biến mọi bất hảo và ác nghiệp của chúng ta. Cuối cùng, Guru Rinpoche, với nụ cười chói người, nói với ta rằng, “Mọi che chướng của con đã được tịnh hóa.”
   Cuối cùng là sức mạnh của lời hứa, nghĩa là sự quyết tâm dứt khoát: “Từ nay trở đi – thậm chí nếu tính mạng nguy hiểm – tôi cũng sẽ không phạm phải ác hạnh nữa.”
   Với bốn sức mạnh này, tất cả các ác hạnh của chúng ta có thể được tịnh hóa. Nhưng Kinh điển nói rằng: “Ác nghiệp có một phẩm tính tốt – nó có thể được tịnh hóa.”
(4) Hoan hỉ
Khi chúng ta nghĩ về điều tốt được tích lũy bởi người khác, dù lớn hay nhỏ, và chúng ta hoan hỉ một cách chân thành, từ sâu thẳm trái tim và không chút ghen tỵ, chỉ hành động hoan hỉ này cũng khiến chúng ta tích lũy được công đức như thể ta tiến hành các hành động đức hạnh này. Hãy nghĩ xem Guru Rinpoche đã thị hiện trong vũ trụ này thế nào: ngài đã đến, thoát khỏi mọi lỗi lầm của các cảm xúc che chướng, và làm lợi lạc chúng sinh trong ba cõi nhờ vô số các hóa thân, chuyển Pháp luân và giảng dạy Chín thừa. Nếu chúng ta hoan hỉ thật tâm với những hành động tuyệt vời như vậy, thì chúng ta thực sự chia sẻ công đức đó. Điều tương tự đúng khi chúng ta trải qua niềm vui thực sự với bất cứ hành động tốt nào được thực hiện bởi người khác – các vị thầy, đệ tử, ẩn sĩ hay bất kỳ ai làm lợi lạc người khác. Bởi vậy sự hoan hỉ này cần phải chân thành, và đến từ trái tim.
(5) Thỉnh Phật Chuyển Bánh xe Pháp
   Trong tất cả các hoạt động của một vị Phật để đem đến lợi lạc cho chúng sinh, quý giá và quan trọng nhất là chuyển bánh xe của Ba thừa Phật Pháp. Sau khi thành tựu Chánh giác, Phật Thích Ca Mâu Ni giữ yên lặng trong ba tuần để nhấn mạnh sự hiếm có và giá trị của giáo lý. Sau đó Phạm Thiên và Đế Thích đến từ cõi trời và thỉnh cầu Phật chuyển Pháp luân vì chúng sinh. Phạm Thiên cúng dường ngài bánh xe vàng nghìn chấu và Đế Thích cúng dường ngài vỏ ốc trắng xoáy tròn sang phải. Kết quả của lời thỉnh cầu đó là, Đức Phật đã chuyển Bánh xe lần thứ nhất, tại vườn Lộc Uyển ở Varanasi, khi ngài dạy Tứ Diệu Đế. Sau đó ngài chuyển Pháp luân lần thứ hai ở Đỉnh Linh Thứu, nơi mà ngài giảng về tính không, và lần thứ ba ở nhiều nơi khác nhau, khi ngài mở ra chân lý tuyệt đối của sự hợp nhất giữa tính không và hình tướng.
   Giống như vậy, nếu chúng ta thỉnh cầu một vị thầy chuyển bánh xe Pháp theo căn cơ khác nhau của chúng sinh, thì chúng ta sẽ có công đức đó. Và kết quả là, chúng ta đang phục vụ lớn lao cho giáo lý và toàn thể Pháp nói chung.
(6) Thỉnh Phật và các vị thầy trụ thế
   Giáo lý được ban ra bởi các bậc giác ngộ là sự hiển bày chứng ngộ bên trong của các ngài, đó là lý do tại sao chúng ta cần thỉnh cầu chư Phật và Đạo sư đừng nhập Niết bàn, mà hãy trụ thế đến khi luân hồi trống rỗng. Các bậc chứng ngộ, những người đạt đến các địa Bồ Tát không phụ thuộc vào sinh tử bình thường, và khi hoạt động của các ngài trọn vẹn, các ngài tan biến thân vật lý. Đó là lý do chúng ta cần thỉnh cầu các ngài, càng chí thành càng tốt, trụ thế dài lâu, để giúp đỡ hữu tình chúng sinh và đưa họ đến chứng ngộ Phật quả.
(7) Hồi hướng công đức
   Thứ bây giờ chúng ta hiến dâng bao gồm cả công đức của việc dâng cúng lời cầu nguyện này trong thực hành bảy nhánh, cũng như công đức chúng ta tạo ra trong quá khứ hay sẽ tạo ra trong tương lai. Cách mà chúng ta hồi hướng công đức là vô hạn, ganh đua với chư Phật và Bồ Tát trong quá khứ khi các ngài chia sẻ và hiến dâng công đức cho hữu tình chúng sinh, và thoát khỏi bám chấp vào ba quan niệm luân hồi của một người hành động, một hành động và một đối tượng của hành động. Điều này ám chỉ rằng chúng ta hoàn toàn chứng ngộ tri kiến tính không, nhưng thậm chí nếu chúng ta chưa chứng ngộ, bất cứ khi nào chúng ta hồi hướng, nó cũng cần thoát khỏi bám chấp thế tục.
Dilgo Khyentse Rinpoche - Đạo sư Du già.
- trích dịch -

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét